Home Tản văn Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không?

Sống trên đời ăn miếng dồi chó. Chết xuống âm phủ biết có hay không?

Là vì đời có thịt chó, thỉnh thoảng ăn chơi một bữa ta thấy nó cũng bõ để cho ta sống, mặc dầu có nhiều lúc cái kiếp con người còn khổ hơn cả cái kiếp con chó vài ba bực.

Câu ca trên như khúc đồng dao, không biết nó xuất hiện từ bao giờ? Nó nói về món dồi chó rất khoái khẩu ăn mãi mà không chán, một món được chế biến khi thịt một con chó để làm cỗ ở quê.

Dồi chó có hình thức giống xúc xích của người Tây và lạp xưởng của người Tàu, nhưng vật liệu để nhồi vào bên trong ruột non thì khác nhau. Xúc xích của người Tây là thịt bò xay, lạp xưởng của người Tàu là thịt lợn băm trộn lẫn một số gia vị đặc trưng. Còn dồi chó của ta lại kết hợp rất khéo các loại rau, lá thơm, ngũ cốc và lớp mỡ màng tang bám suốt chiều dài ruột non của con chó để làm cái “sườn” cho các loại vật liệu khác “ăn theo”.

Có lẽ cái cảm giác chung của các tửu đồ, các tay anh chị bợm nhậu đến các bậc văn nhân khi gắp một khẩu dồi thái vừa tầm (một đốt ngón tay), thấm đẫm trong bát nước chấm riêng của thịt chó rồi đưa lên miệng nhai dập dạp, chiêu một hụm rượu quê vừa được rót ra vẫn còn lớp bọt nhỏ như vảy cá trôi bám xung quanh miệng chén, không biết cái nào đưa cái nào đi. Rượu? Hay dồi chó?

Người ta bảo thịt chó là dã man, là không văn minh.

Con chó dù được xem là gần gũi với con người, nhưng xét cho cùng nó cũng là vật nuôi như con gà, con lợn. Nuôi để thịt là bình thường. Đối với nhà nông thì con trâu, con bò không phải là vật nuôi gần gũi sao? Thậm chí con trâu còn được coi trọng là “đầu cơ nghiệp” của nhà nông. Trong nghiệp làm nông của mình, người nông dân một nắng hai sương luôn gắn bó với con trâu, con bò. Xét về sự gần gũi đến công lao thì con trâu, bò còn hơn con chó. Nhưng giết thịt trâu, bò có ai nói gì đâu, tại sao cứ mặc cảm với việc thịt chó?

Giết thịt chó có dã man hơn các con vật khác không? Có người cho rằng khi thịt chó phải lừa nó trông rất tội, thấy con người thật nhẫn tâm, là một tội ác. Thử hỏi rằng có con vật nào “tự nguyện” cho ta giết thịt? Đều phải lừa bắt nó chứ đâu riêng gì con chó. Rồi cũng đều phải cắt hoặc chọc tiết, cạo lông, mổ ruột, moi gan. Thậm chí nhiều con vật khi giết thịt còn dã man hơn thịt chó. Nhiều nơi khi thịt dê, người ta để con dê còn sống, vừa xối nước nóng cạo lông, vừa dùng roi quất cho dê kêu tới khản tiếng rồi mới đưa vào cắt tiết. Họ cho rằng như thế thịt dê mới hết mùi hôi. Theo tôi, đã giết thịt con vật nào thì cũng có những hành động dã man cả. Theo quan điểm của một số tôn giáo thì giết động vật là đều mang tội sát sinh như nhau, chưa ai cho rằng thịt chó thì tội nặng hơn là thịt con gà. Nếu đã đạo đức và không thấy tội, dã man khi làm thịt các con vật thì có lẽ chỉ ăn chay. Còn đã ăn thịt thì vật nuôi nào cũng giống nhau, chỉ có khác là người thích ăn thịt con này kẻ thích ăn thịt con khác mà thôi.

Ăn thịt chó là không văn minh? Miếng thịt chó chả có tội tình gì với sự văn minh của một đất nước cả. Đất nước giàu có, thịnh vượng, ý thức chấp hành pháp luật của người dân cao, hiếu khách, hiền hòa…thì có ăn thịt chó nhiều hơn nữa cũng không ai bảo họ là không văn minh. Chẳng qua ta nghèo hèn, thì dễ mặc cảm. Phương Tây được cho là văn minh hơn, họ chê bai làm ta cảm thấy chạnh lòng. Nhưng có nhất thiết cái gì ta cũng theo họ thì mới là văn minh?

Ăn thịt chó làm con người hung bạo hơn? Một nhận định hết sức chủ quan. Chả có nghiên cứu nào khẳng định thịt chó có thể làm thay đổi tính nết con người cả. Chưa có một minh chứng khoa học nào thì không thể nhận định bừa theo cảm tính được.

Ăn thịt chó thì dễ trúng chó bả, chó dại, chó ghẻ? Không chỉ mỗi thịt chó mà bất cứ loại thực phẩm nào cũng có thể bị “bẩn”. Thịt lợn thì có chất kích thích tăng trưởng, chất siêu nạc, gà bị toi người ta vẫn làm thịt bán, rau củ quả thì đủ loại thuốc, chất bảo quản.

Ăn thịt chó là tiếp tay cho “cẩu tặc”? Lại một nhận định hết sức vô lý. Như thế để không có “lâm tặc” thì đừng sử dụng gỗ nữa, để không có “tin tặc” thì không dùng máy tính, để không có “đinh tặc” thì đừng đi xe nữa… Không có “cẩu tặc” thì có những loại tặc khác. Để không có nạn tặc hoành hành thì ta phải nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của công dân, chứ không phải vì nó mà ta bỏ những nhu cầu sử dụng.

À mà thôi, lại lan man rồi, chúng ta quay lại nói tiếp về miếng dồi chó nhé.

Ờ mà nếu ca tụng thịt chó mà mang tiếng là thiếu văn minh thì mình cũng đành chịu cái tiếng thiếu văn minh vậy, chớ nói đến miếng ngon mà không nói đến thịt chó, người ta quả là thấy thiếu thốn rất nhiều. Chỉ thiếu có một người, vũ trụ bao la hiu quạnh… huống chi lại thiếu thịt chó thì còn vui sống làm sao?

Thực vậy, có ai một buổi chiều lất phất mưa xanh, trời căm căm rét, mà ngả một con chó ra đánh chén với đôi ba bạn cố tri mới có thể cảm thấy rằng không phải đời lúc nào cũng không đáng để cho người ta sống.

Rõ rằng là mình đương buồn muốn chết, người ủ rũ ra, mà “làm một bữa” vào, chỉ giây lát là “nó sướng tỉnh cả người ra”, không chịu được. Tôi có thể cam đoan với các anh: một người thất tình, muốn đi tự tử, nếu người ấy biết thưởng thức món thịt chó, mà các anh lại mời y dùng chơi chút đỉnh rồi muốn đi chết đâu hãy chết, tôi có thể tin rằng mười bận thì chín bận ăn xong anh ta sẽ đổi ý định ngay.

Là vì đời có thịt chó, thỉnh thoảng ăn chơi một bữa ta thấy nó cũng bõ để cho ta sống, mặc dầu có nhiều lúc cái kiếp con người còn khổ hơn cả cái kiếp con chó vài ba bực.

Muốn có một đĩa dồi chó chuẩn mực, đúng hương vị phải bắt đầu từ chế biến. Sau khi lộn trái bộ lòng, làm thật sạch, sát muối rửa kỹ, ta có được vỏ của khúc dồi. Nhân để làm dồi phải có đủ: lạc rang ủ nóng, xuầy vỏ, giã nhỏ, đậu xanh đãi vỏ đồ chín, giã mịn, mỡ màng tang băm nhỏ, búp dâu non thái như thuốc lào, một chút hành răm vừa phải, thái nhỏ, một ít tiết đọng, một thìa hạt tiêu, một chút bột ngọt… trộn đều. Cũng có nơi thì lại ra hái nắm lá đài bi ( cúc tần) thay búp dâu non, ai mà đi xa quê lâu, ăn dồi chó có lá cúc tần, thấy vị đến lạ mà rất quen, rất ngai ngái như khói chiều đốt rơm lảng bảng, mồm nhai, tay chầm chén mà lòng có lẽ lại rưng rưng…

Nhồi xong cho vào luộc hoặc hấp trên chốc nồi sáo xương, khi luộc phải lấy cái que tre vót nhọn chọc vào thành ruột để dồi chín đều. Chừng ba mươi phút đun nhỏ lửa, vớt ra quấn khúc dồi đã chín vào một ống tre hoặc nứa tươi (đường kính bằng cổ chân), nướng đoạn dồi trên than hoa đỏ rực, sao cho vỏ thì vàng rộm, mà không cháy, dồi không bị nứt, còn lớp mỡ bóng loáng phải chảy đều khắp cả khúc dồi.

Quạt liền tay cho đỏ, mỡ có rỏ xuống than đừng tiếc. Mỡ đó vào lửa, bốc lên thành khói, khói đó quyện lấy chả, tạo ra một mùi vị đặc biệt không tiền khoáng hậu, thơm phưng phức nhưng không thô, thanh thoát cao sang mà vẫn gần nhân loại. Một người đau bịnh nặng, nằm ở bên cửa sổ nhìn ra giàn hoa thiên lý, chợt ngửi thấy mùi thịt bò xào hành tây, có thể ngấy mà lợm giọng; một người có chứng nhức đầu tự nhiên thấy bay đến trước mũi mùi chả lợn nướng có thể thấy khó chịu vì mùi tuy thơm nhưng có ý hơi nóng; nhưng ngửi đến mùi chả cầy ngát trong gió hiu hiu, ta có thể chắc chắn là người khó tính đến mấy đi nữa cũng phải thấy như cởi gan, cởi ruột.

Dồi nóng, dao cùn thái ra là vỡ ngay. Dồi phải được thái khẩu vừa bằng đốt ngón tay, nhát dao hướng vào tâm cong của khúc dồi. Khi bày lên đĩa, đặt các miếng dồi theo các đường tròn đồng tâm, đến lúc ấy ta mới có được một đĩa dồi chó hợp cách nhất.

Nước chấm dồi không nên dùng mắm tôm, bột gia vị mà nó có một thứ nước chấm riêng cũng được chế biến từ lục phủ ngũ tạng của con chó. Cuống họng, phổi, tụy, thận, thực quản, đoạn ruột già được làm thật sạch… tất cả được thái chỉ xào với khế chua, lúc chín tới thì cho mẻ lọc đặc vào đảo đều, đun tiếp, bắc ra thì cho thêm vài lát ớt thái nhỏ, một môi tiết được hãm không đông trộn một ít rượu trắng, vài cái lá chanh tước sống, lấy tay vặt thành các mảnh bằng móng tay trỏ, bỏ vào nồi nước chấm vừa bắc khỏi bếp đang bốc khói thơm nức.

Khi ăn, khẩu dồi được thấm đẫm trong nước sền sệt của bát lòng chuột có màu mận chín, gắp kèm vài lát của lục phủ ngũ tạng còn bốc khói, thêm một nhánh húng chó, một nhánh mùi già, chiêu một hớp rượu… tất cả chúng quện với nhau tạo cho thực khách một cảm giác khó quên lắm.

Các sản vật của nền văn minh lúa nước đã cử đại diện của mình tham gia để cấu thành miếng dồi chó hấp dẫn thực khách, một món ăn đặc trư­ng của văn hoá ẩm thực Đông phương thuần khiết.

Gắp một miếng thịt đó, đừng ăn vội, hỡi người háu ăn ơi! Cứ từ từ, chầm chậm để làm khổ ông thần khẩu đã! Anh đưa miếng chả lên trước mắt mà xem: miếng thịt cứ săn lại như thịt một người lực sĩ, mà bóng nhễ bóng nhại một cách mới lành mạnh làm sao! Nó thơm quá đi mất thôi, anh ạ. Thơm quá chừng là thơm, thơm không phải chỉ làm khổ riêng khứu giác của những người ở trong nhà mà thôi đâu, còn làm khổ tất cả láng giềng, hàng xóm.

Vừa ăn, vừa ngẫm, rồi lại cứ tiếc rằng khi xuống âm phủ liệu có còn thứ đó nữa không. Sao các thứ khác người ta không nhắc, mà chỉ nhắc đến món dồi chó dân dã này nhỉ?

Trong các truyện cũ của Tàu, người ta thường thấy có những con hồ ly tinh gần thành chánh quả mà chỉ vì trong một lúc thèm thịt đàn ông, con trai đã làm điều càn bậy để đến nỗi phí cả mấy ngàn năm tu luyện.

Ngồi mà suy nghĩ, tôi tưởng thịt đàn ông con trai, đối với các con tinh cái, ngon bất quá cũng chỉ bằng đến thịt chó đối với chúng ta là cùng. Chẳng thế mà thịt chó đã thành ra món ăn được ca tụng trên cửa miệng mọi người, và hơn thế, lại còn đi sâu cả vào trong văn chương bình dân nữa.

Thịt chó, thịt cầy, thịt “sư tử đất”, bao nhiêu danh từ được đặt ra, nhưng “làng đánh đụng” vẫn cho thế là chưa đủ, nên luôn luôn những danh từ mới vẫn được người ta “sáng chế”, không ngoài mục đích đề cao món ăn “số dách” kia: thịt chó còn có tên là mộc tồn – ra cái ý rằng mộc tồn là cây còn, cây còn là con cầy; nhưng linh động và ý nghĩa chính là cái danh từ “hương nhục” – thịt thơm.

Này, có dịp nào gặp người biết thưởng thức thịt cầy, anh thử nói về thịt chó mà xem. Một trăm lần như một, anh sẽ thấy người ấy bắt đầu như thế này: “Không có thứ thịt gì lại có thể thơm như nó…”

Nhưng dù thơm, dù ngon, dù ngọt, dù bùi, bao nhiêu “đức tính” đó nào đã thấm vào đâu với cái đức tính bao quát của thịt chó trong công cuộc thống nhất dân tâm, san bằng sự phân biệt giữa các giai cấp trong xã hội?

Thực vậy, tôi đố ai lại tìm ra được một miếng ngon nào khả dĩ liên kết được dân ý đến như vậy, một miếng ngon mà từ vua chí quan, từ quan chí dân, từ ông tư bản đến người làm công, thảy đều ưa thích, thảy đều dùng được, thảy đều thèm muốn, thảy đều công nhận… “ba chê”.

Hình ảnh chỉ mang tính chất mình họa và không nhất thiết phải khác với sự thật.

Nguồn : Nếp cái hoa vàng Tiểu Mai – tổng hợp, viết lại, chủ yếu là của Vân Đình và Vũ Bằng

You may also like

Ý kiến của bạn